Sử quan nho thần trong khi hạ bút để tuyên dương thánh giáo đã gạt hẳn những sự kiện xảy ra trái với ý thức hệ của mình. Người sau biết được những mảnh vụn rải rác là nhờ sự vô tình của các ông hay chỉ vì lớp sơn chuyển hóa mà các ông phủ lên đã không che lấp được hết quá khứ.

Đó là nhận định của tác giả Tạ Chí Đại Trường và cũng là những khó khăn mà các nhà nghiên cứu sử học ngày nay vấp phải khi nghiên cứu các triều đại xa xưa trong lịch sử. Để soi được những “mảnh vụn rải rác” hay những chi tiết “không che lấp được hết” là cả một kỳ công, nhiệt huyết và dấn thân của nhà nghiên cứu sử học để đóng góp những công trình giá trị khách quan, khoa học và nhân văn về những nhân vật, sự kiện lịch sử nước nhà. Chuyện phiếm sử học là một trong những tác phẩm đó.

Chuyện phiếm sử học bố cục 6 chương:

  • Sex và triểu đại
  • “Tiền bạc”, văn chương và lịch sử
  • Thêm chút tiền cho toàn thư
  • Thần tiền và tiền thần
  • Tây tiến
  • Trần

Cuốn sách “tám” nhiều vấn đề (chuyện phiếm) tập trung vào các triều đại Lý, Trần, (Hậu) Lê. Rất nhiều thứ hay ho, độc đáo mà khi đọc chúng ta sẽ không thể bắt gặp trong các sách lịch sử giáo khoa trong nhà trường hay nhiều cuốn sách lịch sử đang đặt trên kệ trong các nhà sách. Một vài trích đoạn về các chủ đề trong sách sau đây chỉ minh họa cho sự uyên thâm, sâu sắc, độc đáo của tác giả.

Bàn về sinh hoạt vợ chồng – cái ý nghĩa sâu xa của từ Vợ Chồng:

Các từ ngữ dùng cho sinh hoạt cơ bản của con người thường là các từ gốc gắn liền với tộc đoàn mà sự che giấu như trên càng khiến cho chúng mang tính xưa cũ hơn hết. Trong tiếng Việt, hai chữ “vợ chồng” đã mang một ý nghĩa cụ thể về sinh hoạt tính dục mà người ta không để ý tới. Nếu nhớ đến cách giải thích sự liên hệ giữa các phụ âm b, v trong các chữ bua / vua (chúa), phân bua / vua…rồi liên hệ với trường hợp có sự biến đổi vợ / bợ, để kết hợp với chữ “chồng” thì hiểu rằng người xưa đã cụ thể hóa hành động giao hợp thông thường nhất của nhân loại (dưới bợ, trên chồng), và chuyển dùng cho cơ chế hôn nhân của người Việt.

Gái lầu xanh hay cave thời hiện đại

Chữ “nữ kỹ” của Toàn thư đã được các sử quan Nguyễn thế ký XIX sửa thành “nữ nhạc” vừa cho hợp với thể giá tầng lớp thanh cao của mình, vừa để khỏi thất kinh dưới mắt đấng quân vương sắp buông lời châu phê. Một chữ dùng ngắn ngủi không cho ta hiểu nhiều về sinh hoạt thường tục đó của nhân loại nhưng cũng cho ta thấy ra một tổ chức, lỏng lẻo hay chặt chẽ thì không rõ, nhưng vẫn là một tổ chức cung ứng sinh hoạt tình dục cho người quyền thế, tiền bạc đi theo với thời thịnh trị, an bình tương đối của Lê Thánh Tông.

Bàn về vụ án oan ông Nguyễn Trãi (Lệ Chi Viên) – chỉ là người tính không bằng trời tính

Văn quan cấp dưới có thể có thể chịu luồn lọt ẩn nhẫn để thoát, hay dựa vào thế cần đổi thay của nhóm Lam Sơn để tiến thân nhưng công thần Nguyễn Trãi đã từng nằm ngục ngay lúc “Chiếu bình Ngô” chưa ráo mực, tất thấy thế mình khó hơn nhiều. Muốn thoát được, ông phải vận dụng công sức nhiều hơn. Vì thế với óc mưu sĩ, ông đã cho Thị Lộ vào cung tìm thanh thế tận bên trong. Lời các hoạn quan can ngăn không làm ông co lại mà còn như chỉ dấu rằng mưu định của ông có cơ sở vững chắc hơn: vua 17, 18 tuổi con nít ham sắc thì “vợ” ông, lớn tuổi hơn, lão luyện hơn, càng dễ xỏ mũi đắc thế hơn chứ sao! Không thấy bà Thị Lộ xúi được vua giáng chức ông đại công thần Đinh Lễ “cưng” của Lê Thái Tổ là gì! Vậy thì Nguyễn Trãi không “hiền”, là “thứ dữ” nhưng chỉ vì không vượt qua được tình thế không ngờ, để ngăn trở cơn “thượng mã phong” của Lê Nguyên Long Thái Tông, mà ông mắc vạ đấy thôi.

Một ít về vai trò người phụ nữ – hoành tráng nhưng bị mấy ông và xã hội dìm hàng

Lý thuyết Nho vẫn dành một địa vị trang trọng cho người phụ nữ, tất nhiên trước hết là trong gia đình, nhưng không khỏi lan ra ngoài xã hội, điều nhà nho thường cố sức ngăn chặn bằng những lời cảnh cáo mà vẫn không hiệu quả. Lễ ký tuy dành phần ưu thế cho phía đàn ông nhưng vì mối liên hệ tương quan nam nữ rất cần thiết cho sự vững bền của thể chế nên không thể bỏ qua sự trọng đãi người phụ nữ, một khi đã ràng buộc họ vào bổn phận.

Sự phân công trong việc đồng án đã khiến cho người phụ nữ có một chừng mực ngang hàng với nam giới – chưa kể trường hợp người vợ chạy chợ buôn bán xuôi ngược, nắm quyền kinh tế trong gia đình như đã nói.

Tuy nhiên lại cũng không có nghĩa là sự kỳ thị giới tính không còn nữa. Nó lại tăng thêm vì có sự phối hợp của thành kiến trong quá khứ ăn sâu vào tâm tính nhân loại, cộng thêm với lễ giáo mới.. Hiện tượng kinh nguyệt là điều ghê sợ, gây cấm kỵ khắp nơi… cùng với các truyện, tuồng tích đem lại hình ảnh con Đắc Kỷ hồ ly tinh, con Võ hậu lăng loàn…trong đầu óc dân chúng bình thường về sự khinh miệt “đàn bà đái không khỏi ngọn cỏ”.

Một ít về văn chương – sự kiêu ngạo văn hóa của kẻ mạnh

Thể thơ lục bát nhờ các đại biểu rõ ràng như Truyện Kiều nên khiến có người cho là gốc Việt…nhưng nếu nhìn vào sự tương cận văn thể và sự tiếp xúc của các tập họp Chàm Việt trong quá khứ ở phía bắc cả từ thế kỷ X, nhìn vào tiến trình thể loại, với các truyện thơ phía nam chưa hoàn chỉnh, dấu vết rõ ràng cơ khởi của lục bát, thì cũng nên nén tự ái mà xem thử nó có gốc Chàm hay không.

Nhà nho lại cái – giới tính thứ 3

Người ta phải lén lút náu hình, “núp bóng đàn bà”: Tần cung nữ oán Bái Công văn, Cung oán ngâm khúc. Nhà nho khi mượn lời nữ đã trở thành lại cái. Sự biến hình, dù trong tâm tưởng, và vô ý thức, cũng đã có nguyên nhân từ sự đè nén của quyền lực chính trị, của đạo lý gay gắt bóp mềm con người. Dạng hình mượn (làm người nữ) phối hợp với sự mềm yếu tâm tính, đủ cho sự giả trang của nho thần che mắt được quyền lực bên trên. Và thế là Đại Việt có một thành phần văn chương lại cái.

Có thể nghĩ rằng tuy đời Minh, ngang với Lê, đã thông dụng từ thái giám có nghĩa là hoạn quan, nhưng để tổ chức triều đại giúp họ Lê phụ đạo vừa xuống đồng, các nho sĩ Trần Hồ vốn học sách xưa, chưa up date, nên vẫn dùng tên quan chức cũ. Điều này cũng là hợp với thực trạng của ông chủ Lê mới mà không làm ngượng các người đương chức. Tất nhiên là với sự phát triển triều đại sẽ có những hoạn quan thực thụ, tuy ta không thể nào biết rõ trong số nội quan của Lê ai là người đáng được “chính danh”.

Bàn về tiền đồng – ý nghĩa, giá trị “thặng dư” (như cách nói của Karl Marx)

Về hình thức thì đồng tiền có dạng tròn vành, vuông lỗ với ý nghĩa trời tròn, đất vuông, căn bản của kiến thức địa lý, thiên văn học ngày xưa, thật là xưa, được chuyển sang quan niệm siêu hình về sự an bình, hạnh phúc thường tục: mẹ tròn con vuông. Ý nghĩa siêu hình ấy lại kèm theo niên hiệu của ông vua cho nên miếng đồng nhỏ ấy có khi trở nên quý giá hơn giá trị thật của nó, và được dùng làm “tiền thưởng”…

Chất chính nằm trong tiền (đồng trinh) là đồng, thứ kim loại tạo nên cả một giai đoạn văn minh toàn nhân loại, làm mệt công các nhà khảo cứu.