Nguồn Internet

Tự nhiên thứ hai

Sẽ không có văn hoá mà không có những năng kiếu của bộ não con người, nhưng sẽ chẳng có lời nói cũng như tư duy mà không có văn hoá. Sự xuất hiện văn hoá dẫn đến sự thay đổi quỹ đạo trong sự tiến hoá. Ngôn ngữ xuất hiện trong tiến trình nhân hoá chiếm vị trí hạt nhân của mọi văn hoá, mọi xã hội con người, và các ngôn ngữ của mọi nền văn hoá, ngay cả những nền văn hoá cổ sơ nhất, cũng đều giống nhau về cấu trúc.

Vốn liếng đầu tiên của con người, đó là văn hoá. Nếu không có văn hoá, hiện hữu con người chắc chỉ là giống linh trưởng hạ đẳng nhất. Trong từng xã hội, nền văn hoá được bảo vệ, nuôi dưỡng , gìn giữ, tái sinh, nếu không thế thì văn hoá ắt vấp phải nguy cơ tắt ngấm, vứt bỏ, huỷ hoại.

Văn hoá lắp đầy khoảng chân không nhờ việc trẻ hoá và kém hoàn thiện về sinh học. Văn hoá cho phép học tập và hiểu biết, nhưng chính nó cũng là cái ngăn trở học tập và hiểu biết những gì nằm ngoài các mệnh lệnh nhất thiết của nó, ở đây rõ ràng có sự đối kháng giữa tinh thần tự chủ với văn hoá của nó.

Nhân loại và ngôn ngữ

Mỗi ngôn ngữ đều có những quy tắc riêng về ngữ pháp và cú pháp, chứa đựng từ vựng riêng, tất cả tạo nên sắc thái riêng biệt đơn nhất của nó, nhưng các quy tắc riêng này lại phục tùng những cấu trúc sâu xa chung cho mọi ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một bộ phận của khối toàn thể loài người, song khối toàn thể này cũng chứa đựng trong ngôn ngữ.

Ngôn ngữ “tự nhiên” mang tính phức hợp cực độ….Con người tự tạo trong ngôn ngữ, đồng thời ngôn ngữ đã tạo nên con người.

Ngôn ngữ cho phép sự thực hiện sự hợp trội của tinh thần con người, nó là tất yếu đối với con người trong mọi tác vụ nhận thức và thực hành, và nó cũng gắn kết vào nội tại mọi tổ chức xã hội.

Cuộc cách mạng tinh thần

Sự gia tăng và cải tổ bộ não là những bằng chứng và tác nhân của cách mạng tinh thần chi phối mọi khía cạnh của bộ ba con người là cá nhân – xã hội – giống loài. Từ đó, tinh thần đã hợp trội lên từ bộ não con người, cùng với ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ ở trong lòng một nền văn hoá, và tự khắng định trong mối tương quan: bộ não – ngôn ngữ – văn hoá – tinh thần.

Tinh thần con người khuếch trương trước hết những hình thức của trí thông minh sẵn có trong giới động vật và sau đó nó phát triển những hình thức thông minh mới. Những hình thức mới này được sử dụng chủ yếu trong thực tiễn, trong sản sinh các đối tượng nhân tạo,…

Nhờ tư duy, trí thông minh con người đặt ra những câu hỏi và tự đề xuất cho mình những vấn đề, tìm lời giải, phát minh, qua đó đạt tới năng lực sáng tạo.

Ý thức là sự hợp trội nổi bật hơn hết của tinh thần con người. Bước phát triển đầy đủ của tư duy bao gồm tính phản tư bản thân của nó: ý thức có thể suy tư về hiện hữu con người đang hiện hữu lên bản thân, và nó còn có thể suy tư về cả tri thức nữa để tạo nên tri thức về tri thức.

  • Mở cửa ra thế giới

Tinh thần con người mở cửa ra thế giới. Việc này bộc lộ rõ ở thái độ hiếu kì, đặt câu hỏi, khám phá, tìm tòi nghiên cứu, ham mê hiểu biết. Nó thể hiện qua phương thức thẩm mĩ…Nó kích thích mọi bước khởi đầu.

  • Tính hiển nhiên vĩ đại: lí tính và kĩ thuật

Nét độc đáo của con người  thể hiện trong quá trình suy giảm của thần thoại và ma thuật là những nội dung mà các nhà khoa học vạch trần là chuyện phi lí, ấy thế mà vẫn còn là một bộ phận của nhân loại cũng giống như lí tính.

Kĩ thuật tìm cách sửa chữa những khiếm khuyết của con người. Hiện hữu con người tuy có được đôi bàn tay khoé léo, nhưng quá yếu đuối về cầm nắm và đập. Biết chạy nhưng chậm, không biết bay, không có thị giác như loài chim, khứu giác như chó,… Bởi vậy, kĩ thuật phải dần dần thực hiện kiểu nhân tạo để hiện thực hoá những tham vọng và ước mơ của loài người.

  • Tính hiển nhiên bị che phủ: trí tưởng tượng và thần thoại

Sự phát minh ra thần thoại, tín ngưỡng, tôn giáo cũng quan trọng như kĩ thuật. Nếu logic chỉ huy thế giới lí tính thì phép tương tự chỉ huy giới thần thoại. Mọi nền văn minh đều đồng thời có tình trạng đối lập và kết hợp giữa hai luồng tư tưởng ấy: sự hiện diện của mỗi bên lẫn sâu trong bên kia, cả hai bên thấm sâu vào nhau. Thần thoại vốn nảy sinh từ một điều rất sâu thẳm trong tinh thần con người. Nó hợp lại cho thêm sáng tỏ do tính kì bí của hiện sinh và vực thẳm của cái chết.

  • Ma thuật, nghi lễ và hiến sinh

Không phải chỉ ở các nền văn minh tối cổ, tục ma thuật mới phổ cập tràn lan: ngay tại thế giới đương đại, nó vẫn tồn tại dai dẳng dưới dạng giản lược (như ám ảnh mê hoặc, sai khiến từ xa),…

Nghi lễ vốn đã thâm nhập rất sâu trong đời sống đông vật. Song, những nghi lễ đặc thù cho con người thì đều gắn bó mật thiết với ma thuật, thần thoại, tôn giáo và trong sâu thẳm của tâm linh là gắn liền với tính thiêng liêng thần thánh và cái chết.

Tục hiến sinh có nhiều ý nghĩa gắn bó với nhau:

  • Đối ứng với tâm thức lo âu, với tình thế bất trắc bằng lễ vật dâng lên các đấng thần linh;
  • Phục tùng đòi hỏi ghê gớm của các đấng thần linh ấy;
  • Thực hiện nguyên tắc trao đổi qua lại: hi sinh hàng loạt  để mong được thần linh ban ơn hay cứu giúp;
  • Để thêm sức tái sinh: sinh đẻ thêm, phồn thực;
  • Mong diệt trừ cái ác;
  • Củng cố cộng đồng.

Trí quyển

Là tinh thần, kiến thức, tín ngưỡng, thần thoại, truyền thuyết tư tưởng.

Mọi xã hội đều khai sinh và nuôi dưỡng trí quyển của mình, là môi trường truyền dẫn và đưa tin của tâm trí con người, trí quyển cho ta giao lưu truyền thông với thế giới, đồng thời cũng biến ta thành bức màn chắn giữa ta với thế giới.

Trí quyển bao trùm lên mọi người, đồng thời trở thành một bộ phận của con người. Trí quyển tham gia theo cách đệ quy vào mạch vòng tự-tổ chức của xã hội và cá nhân. Những chủ thể trí quyển tự tái sản sinh trong tinh thần mọi người thông qua giáo dục, tự truyền bá tại đó thông qua việc quy đạo.

Nhân loại và phi nhân loại về cái chết

Chính cái chết thể hiện rõ sự đứt gãy to lớn nhất giữa tinh thần con người với giới sinh vật. Chính cái chết mà tâm trí, ý thức, lí tính, thần thoại gặp nhau, đụng độ nhau, va đập nhau, liên quan nhau. Cái chết của con người bao hàm ý thức về cái chết và đồng thời cũng bao hàm thái độ chối bỏ cái chết. Tâm thức chối bỏ cái chết nuôi dưỡng những huyền thoại về kiếp sau, tái sinh.

Phía bên kia cội rễ

Tương tự cách thức tại một điểm của bức tranh toàn đồ, chúng ta chứa đựng trong nội bộ tính kì dị của chúng ta không chỉ toàn thề nhân loại, toàn thề sự sống, mà hầu hết toàn bộ vũ trụ. Chúng ta cắm rễ trong vũ trụ và sự sống của chúng ta, nhưng chúng ta cũng tự thân phát triển ở bên kia cội rễ.

< Bản sắc nhân loại